Tiểu sử cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Tú Mỡ

Tú Mỡ hay Hồ Trọng Hiếu là một trong những nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam. Với khối lượng tác phẩm đồ sộ Tú Mỡ mang đến cho độc giả nhiều cảm xúc trong thơ ca.

Tiểu sử

Tú Mỡ tên thật là Hồ Trọng Hiếu (1900 – 1976) là một nhà thơ trào phúng Việt Nam.

Tú Mỡ sinh ngày 14 tháng 3 năm 1900 tại phố Hàng Hòm (Hà Nội), trong một gia đình lao động nghèo ở thành thị (tiểu thủ công).

Lên 5 tuổi, ông học chữ Hán với ông nội. Khi ông nội mất, ông mới học chữ quốc ngữ với thầy giáo Quý ở phố Hàng Mành. Học được một năm, ông xin chuyển vào học trường nhà nước ở phố Hàng Bông, tiếp đến là trường ở Hàng Vôi.

Năm 14 tuổi (1914), ông đỗ đầu bằng sơ học Pháp-Việt, nên năm sau được vào học tại trường Bưởi (nay là Trung học phổ thông Chu Văn An), chung với Hoàng Ngọc Phách.

Năm 16 tuổi (1916), ông bắt đầu “mắc bệnh” làm thơ. Trong Hồi ký, ông kể lại: “…tôi quyết tâm học làm thơ. Trước hết tôi mua bộ Hán-Việt văn khảo để nghiên cứu các thể thơ ca, từ, phú, rồi mua những tập thơ của Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Yên Đổ, Tản Đà, Trần Tuấn Khải, những tác phẩm mà tôi thích đọc nhất…”

Năm 17 tuổi (1917), ông bắt đầu yêu một cô gái 15 tuổi ở Hàng Bông, làm được bài thơ tình đầu tiên (theo thể thất ngôn bát cú) có tên là Tương tư, bị Hoàng Ngọc Phách chê là sáo…

Năm 18 tuổi, ông đỗ bằng Thành Chung và cuối năm đó, ông xin vào làm (thư ký) trong Sở Tài chính (Hà Nội) cho đến Cách mạng tháng Tám (1945).

Bước vào nghề “thầy Phán”, ông sáng tác được bài thơ khôi hài đầu tiên, đó là bài Bốn cái mong của thầy Phán.

Năm 1926, ông bắt đầu có thơ đăng trên Việt Nam thanh niên tạp chí, Tứ dân tạp chí.

Sau khi gặp gỡ Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam), được nhà văn này phát hiện năng khiếu làm thơ trào phúng của ông, năm 1932, Tú Mỡ tham gia Tự Lực văn đoàn, rồi được cử phụ trách mục Giòng nước ngược trên tờ Phong Hóa, một tờ báo chuyên về văn chương, hài hước và trào phúng của bút nhóm này.

Tháng 12 năm 1946, chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ, Tú Mỡ lên chiến khu, tham gia kháng chiến bằng ngòi bút trào phúng sở trường quen thuộc. Thời kỳ này, Tú Mỡ ký tên là Bút Chiến Đấu. Ông giải thích: Vì thấy công cuộc kháng chiến là công cuộc nghiêm chỉnh, mình dùng bút danh để đánh địch cũng là việc làm nghiêm chỉnh,…cho nên tôi không muốn dùng bút danh cũ là Tú Mỡ. Tú Mỡ là tên đặt đùa, ý là người kế tục nhà thơ bậc thầy Tú Xương. Vả lại, hai chữ Tú Mỡ lúc này ông còn nghe gần với “đú mỡ”, có vẻ không được…nghiêm túc. Và từ nay, tôi đặt thơ vào hai mục riêng: loại đánh địch là mục “Nụ cười kháng chiến”, loại ca ngợi tinh thần anh dũng của quân dân là mục “Anh hùng vô tận”. Theo Từ điển Văn học (bộ mới), thì trong lúc kháng chiến, có lần ông bị đối phương bắt nhưng đã tìm cách thoát được.

Một số tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Tú Mỡ

Thơ: Nụ cười kháng chiến, Đòn bút, Ông và cháu, Anh hùng vô tận, Bút chiến đấu,…

Diễn ca, chèo, tuồng: Trung du cười chiến thắng, Tấm Cám, Nhà sư giết giặc, Dân tộc vùng lên.

Nghiên cứu: Bước đầu viết chèo.

Giải thưởng

1951: Giải nhất về thơ ca của Hội Văn nghệ Việt Nam.

1955: Giải nhì về thơ ca của Hội Văn nghệ Việt Nam

2000: Được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt II

Phong cách sáng tác của nhà thơ Tú Mỡ

Tú Mỡ” hay “Bút Chiến Đấu” đều là bút danh của Hồ Trọng Hiếu do thời vận mà thành. Chỉ nghe những tên bút danh ấy người ta có thể đọc vị được ý nghĩa của chúng. Tuy nhiên, cái tên bút danh Tú Mỡ, ngoài hàm nghĩa Hồ Trọng Hiếu tự nhận mình là hậu bối của nhà thơ trào phúng Tú Xương, còn có một ý nghĩa khác, thực tế hơn và cũng khôi hài hơn. Bởi lẽ ông là một người gầy dơ xương, nên có lẽ gọi là Tú Xương thì mới đúng. Tú là học hết bậc tú tài Tây, còn Xương vì ông lấy đâu ra thịt. Thế nhưng, Tú Xương là bút danh của bậc tiền bối, cùng theo dòng thơ trào phúng, nên người có học, lại đức độ như Hồ Trọng Hiếu không thể để cho thiên hạ nhầm lẫn có hai Tú Xương, nên ông đành chuyển sang bút danh Tú Mỡ, âu cũng là một cách khôi hài và tự trào về dáng vóc gầy còm dơ xương của ông vừa đắc đạo với tiền nhân, vừa đắc chí với chính mình.

“Tú Mỡ” hay “Bút Chiến Đấu” đều là bút danh của Hồ Trọng Hiếu do thời vận mà thành. Chỉ nghe những tên bút danh ấy người ta có thể đọc vị được ý nghĩa của chúng. Tuy nhiên, cái tên bút danh Tú Mỡ, ngoài hàm nghĩa Hồ Trọng Hiếu tự nhận mình là hậu bối của nhà thơ trào phúng Tú Xương, còn có một ý nghĩa khác, thực tế hơn và cũng khôi hài hơn. Bởi lẽ ông là một người gầy dơ xương, nên có lẽ gọi là Tú Xương thì mới đúng. Tú là học hết bậc tú tài Tây, còn Xương vì ông lấy đâu ra thịt. Thế nhưng, Tú Xương là bút danh của bậc tiền bối, cùng theo dòng thơ trào phúng, nên người có học, lại đức độ như Hồ Trọng Hiếu không thể để cho thiên hạ nhầm lẫn có hai Tú Xương, nên ông đành chuyển sang bút danh Tú Mỡ, âu cũng là một cách khôi hài và tự trào về dáng vóc gầy còm dơ xương của ông vừa đắc đạo với tiền nhân, vừa đắc chí với chính mình.

Xem thêm:

  • Những bài thơ về mùa thu hay nhất trong phong trào thơ mới
  • Những bài thơ tình bất hủ trong phong trào thơ mới
  • Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Hàn Mặc Tử
  • Tiểu sử cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nam Cao
  • Chiếc lược ngà – Thánh ca của tình phụ tử thiêng liêng

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *